Đỉa là một trong những vị thuốc cổ nhất của Đông y. Tác dụng chữa bệnh của đỉa được ghi chép lần đầu tiên trong cuốn sách "Thần nông bản thảo kinh", bộ sách thuốc đầu tiên của Đông y Trung Quốc cách đây 2.000 năm.Theo sách "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của cố Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, đỉa dùng làm thuốc có nhiều loài nhưng thông dụng nhất là 3 loài: Đỉa xám, đỉa xanh lục và đỉa trâu.
Theo thầy thuốc nhân dân Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch hội Đông y Việt Nam, đỉa khô còn gọi là "thủy điệt" hay "mã hoàng", có vị mặn, đắng, tính hàn, có độc. Đỉa là bài thuốc có tác dụng phá hòn cục, tiêu tích, phong nở, trị bế kinh, trị các bệnh của phụ nữ như huyết ứ, không lưu thông do sang chấn tổn thương gây đau nhức.
Cũng theo thầy thuốc Hướng, để làm thuốc, bắt các con đỉa to, khỏe, ngâm vào nước vôi loãng hoặc với rượu cho chết rồi vớt ra rửa sạch, mổ bụng, lộn toàn bộ ruột ra phía ngoài. Sau đó rửa tiếp bằng nước muối loãng nhiều lần, đun cho chín, thái từng khúc rồi phơi sấy khô. Bảo quản trong các lọ thủy tinh sạch ở nơi khô ráo thoáng mát, thời gian sử dụng khoảng 6 tháng. Đỉa khô là một phương thuốc được dùng từ 2000 năm trước tại Trung Quốc.
Cùng quan điểm, lương y Lê Xuân Hải, Chủ tịch hội Đông y quận Đống Đa, Hà Nội cho biết, đỉa khô không có giá trị dinh dưỡng nào cả, song là một vị thuốc chữa bệnh trong Đông y. Quanh miệng con đỉa có tuyến nước bọt tiết ra chất hirudin tác dụng làm cho máu không đông. Người ta dùng đỉa làm nguyên liệu chiết men hirudin dưới dạng thuốc tiêm, thuốc xoa để chữa những trường hợp máu hay đông tắc, tụ máu nội tạng, tụ máu vết thương...
Từ xưa, Đông y đã biết đỉa là một vị thuốc có tính độc nên chỉ sử dụng với liều lượng nhỏ. Mỗi ngày người bệnh chỉ nên dùng 2-4 g đỉa khô, kết hợp với một số vị thuốc khác như nga truật, tam lăng, xuyên sơn giáp, đan sâm, đương quy... Những người ứ trệ huyết không phải thực trứng thì cấm dùng. Người bệnh nên thăm khám thầy thuốc để được hướng dẫn sử dụng bài thuốc đặc trị phù hợp với bệnh và thể trạng.
Ông Hướng nhấn mạnh, đây là vị thuốc không độc nhưng nguy hiểm. Người dân kể cả những thầy thuốc không có kiến thức sâu về đông y thì tuyệt đối không nên dùng.
Nhiều người lo ngại đỉa khô có thể tái sinh. Bác sĩ Lê Hữu Tuấn ở Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương nhìn nhận, lịch sử y học đã ghi nhận nhiều trường hợp con đỉa có thể bám và sống trong hốc mũi, hậu môn của người, nhưng đấy là con đỉa sống. Chưa có xác thực nào về việc đỉa có thể tái sinh sau khi được phơi khô, tán nhỏ và cấy vào thức ăn. Lý do là bào tử của đỉa qua quá trình chế biến không thể tồn tại.Learn more »
Trong mật ong và chanh đều có chứa các hoạt chất kháng khuẩn mạnh mẽ. Vitamin C có trong chanh giúp tăng cường khả năng miễn dịch, chống nhiễm khuẩn, giải nhiệt, tiêu đờm. Vị ngọt, ấm của mật ong sẽ làm dịu các triệu chứng đau, rát, ngứa cổ họng. Sự kết hợp giữa hai loại thuốc tự nhiên này sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc chữa viêm, đau họng.
Cách làm chanh mật ong để chữa đau họng, viêm họng
Chuẩn bị: Chanh Mật ong nguyên chất Nước ấm
Cách làm: Vắt lấy nước cốt của 1/2 quả chanh vào một chiếc chén. Tiếp theo, cho thêm vào chén một thìa mật ong nguyên chất. Cho một chút nước ấm rồi khuấy đều hỗn hơp trên. Chanh mật ong là một bài thuốc dân gian lâu đời giúp chữa đau họng, viêm họng hiệu quả.
Cách dùng chanh mật ong
Sử dụng chanh mật ong vào mỗi sáng thức dậy để làm giảm lượng chất nhầy. Cứ cách khoảng 3 - 4 tiếng lại uống để làm giảm các triệu chứng do viêm và tăng cường khả năng kháng khuẩn.
Ngoài ra, chanh cũng có thể thái lát mỏng sau đó ngâm với mật ong. Khi bạn khó chịu do ngứa, rát cổ họng, hãy ngậm những lát chanh mỏng này để làm dịu triệu chứng.
Những lưu ý khi sử dụng chanh mật ong
Mặc dù chanh mật ong là một bài thuốc tự nhiên rất tốt trong việc điều trị các bệnh nhưng vẫn cần có những lưu ý trong việc sử dụng để có thể phát huy hết hiệu quả của mình. Dưới đây là những lưu ý trong việc sử dụng chanh mật ong.
Cẩn thận khi sử dụng với các loại thuốc tây y
Mật ong khi kết hợp với một số chất trong thuốc tây y có thể làm giảm quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng hoặc có thể làm mất tác dụng của một số loại thuốc khiến cho cơ thể mệt mỏi hơn. Chính vì vậy, không nên sử dụng chanh mật ong cùng lúc với các loại thuốc tây y.
Không sử dụng quá nhiều mật ong cho người cao tuổi
Quá nhiều mật ong có thể dẫn tới hiện tượng tăng huyết áp, gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, đặc biệt là ở những người cao tuổi.
Không sử dụng quá nhiều chanh vào buổi sáng
Dạ dày của bạn thường có xu hướng rỗng vào mỗi sáng thức dậy. Việc sử dụng quá nhiều chanh có thể làm tăng lượng axit gây ảnh hưởng không tốt đến hệ thống tiêu hóa.
Không pha chanh mật ong với nước quá nóng
Nước quá nóng có thể dẫn tới sự biến đổi chất và làm mất đi tác dụng của chanh với mật ong. Chính vì vậy, chỉ nên sử dụng nước ấm để làm hòa quyện chanh với mật ong.
Sử dụng chanh tươi
Loại chanh được sử dụng làm thuốc phải là chanh tươi. Không nên sử dụng chanh đã cắt hoặc chanh để trong tủ lạnh bởi như vậy sẽ làm giảm chất lượng.
Không nên cho trẻ em uống quá nhiều chanh mật ong
Hệ tiêu hóa của trẻ nhỏ vẫn chưa hoàn thiện hết. Sử dụng quá nhiều có thể gây ra ngộ độc, táo bón...Learn more »
Cây chè có vị đắng chát, hơi ngọt, tính mát có tác dụng đến gan thận, thường dùng thanh nhiệt, giải khát, tiêu thực, lợi tiểu, giúp cho cơ thể thư thái sảng khoái, da thịt mát, mịn màng, chữa chóng mặt, kiết lỵ, nấu nước, rửa vết thương, giúp phòng một số bệnh hiểm nguy. Ảnh minh họa
Chữa bệnh tiêu chảy Búp chè 50 g, búp ổi 50 g, cả hai sao vàng đun lấy 150 ml nước đặc chia 3 lần uống trong ngày, trước khi ăn, cần uống liên tục 3-5 ngày. Chữa bệnh kiết lỵ
Chè khô 20 g, lá mơ lông khô 10 g, cỏ sữa khô 5 g. Sắc uống như trên.
Chữa đau đầu, hoa mắt do phong nhiệt
Lá chè 10 g, bạc hà 10 g, hoàng linh 60 g (sao rượu 3 lần), xuyên khung 30 g, bạch chỉ 15 g, hoa kinh giới 12 g. Tất cả đem nghiền thành bột, mỗi lần uống 6-10 g, uống với nước chè. Chữa loét dạ dày, lá tràng: Lá chè, đường trắng, mật ong mỗi loại 250 g. Đổ vào 4 bát nước, nấu đến lúc còn 2 bát, vứt bã đi, nguội thì bỏ vào lọ kín, sau 12 h uống. Uống vào sáng và tối, mỗi lần một thìa, hâm ấm trước khi uống. Chữa thần kinh hỗn loạn
Lá chè già 30 g, nghiền thành bột, bột phèn trắng 15 g. Hỗn hợp chúng thành viên bọc chu sa, mỗi lần uống 9 g.
Chữa sốt rét
Lá chè 9g, thịt quả bồ đào 15 g (nghiền nát), xuyên khung 1,5 g, nếu rét nhiều thêm 1 g hồ tiêu, đổ nước sôi vào, khi chưa lên cơn thì uống từ từ cho đến lúc lên cơn sốt.
Chữa rộp miệng, miệng hôi hoặc ăn hành, tỏi sống
Súc miệng bằng nước chè đặc hoặc nhấm lá chè.
Chữa kinh nguyệt không đều
Lá chè 6-9 g, nấu lên cho ít đường đỏ, uống ngày 2 lần. Chữa nước ăn chân
Dùng lá chè xanh ngâm nước rồi rửa chân.
Chữa khó đi tiểu, tức bụng dưới
Hải kim sa 30 g, lá chè 15 g, nghiền thành bột, mỗi lần uống 10 g, nấu nước gừng và cam thảo uống cùng. Chữa đau hông, khó quay người
Nước chè đặc 250 g, giấm 100 ml, lẫn với nhau rồi uống ngay.
Uống nhiều rượu tim nóng, mệt mỏi, ngủ nhiều
Một chén nước chè đặc, uống nóng.
Chữa bệnh cùng kinh giới
Cây kinh giới thân thảo, cao 30-40 cm. Thân vuông, chia nhiều cành, mọc đứng. Phần thân, cành non có lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá thuôn nhọn, dài 5-8 cm, rộng 2-3 cm, mép lá có răng cưa, cuống dài 2-3 cm. Hoa nhỏ, màu tím nhạt, không cuống.
Cây kinh giới có vị cay, tính hơi nóng, có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiểu, chữa nóng sốt, cảm gió, chữa bệnh dị ứng, sao đen để cầm huyết. Ảnh minh họa
Chữa cảm lạnh phát sốt, nhức đầu, đau mình ê ẩm không có mồ hôi
Kinh giới hoa (hoa, cành, lá) 20 g. Sắc thuốc xong cho bệnh nhân uống một lần khi thuốc còn nóng. Sau đó cho thêm các thứ lá: lá dâu 5 g, lá sả 10 g, lá bưởi 8 g, lá cúc tần 6 g, lá ổi 4 g và 3 bát nước đun sôi, cho bệnh nhân xông. Sau khi xông, đắp chăn kín cho ra mồ hôi.
Chữa cảm đau nhức các đầu xương
Kinh giới tươi (cành non, lá) 50 g, gừng sống 10 g. Hai thứ rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt cho bệnh nhân uống, ngày 2 lần, bã thuốc xoa dọc xương sống từ trên xuống.Learn more »